VIÊM MÀNG NÃO

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thắng (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:46' 09-02-2011
Dung lượng: 82.0 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thắng (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:46' 09-02-2011
Dung lượng: 82.0 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
VIÊM MÀNG NÃO
I. ÐẠI CƯƠNG
Màng não là một tổ chức mô liên kết bao bọc não và tủy sống, được chia làm 3 màng đó là:
- Màng cứng (dura mater) nằm ngoài cùng, là tổ chức xơ bền vững bám chặt hộp sọ trừ vùng thái dương đỉnh và cột sống, nơi đó tạo khoang ngoài màng cứng.
- Màng nhện (arachnoidea) là tổ chức liên kết mềm, không mạch máu. Màng nhện có 2 lá, giữa hai lá có những cầu nối trong khoang nhện. Giữa lá ngoài và màng cứng là khoang dưới màng cứng. Lá trong bám chặt vào màng mềm (pia mater).
- Màng mềm mỏng, giàu mạch máu, bám chặt vào não bộ và tủy sống.
Khi nói viêm màng não có nghĩa là viêm 3 màng, nhưng chủ yếu là viêm màng nhện và màng mềm (lepto méningite). Viêm màng não là một khái niệm giải phẫu lâm sàng do nhiều nguyên nhân gây nên, song bệnh cảnh lâm sàng nổi bật là hội chứng màng não.
Ðể xác định chẩn đoán cũng như chẩn đoán nguyên nhân phải dựa vào xét nghiệm dịch não tủy (DNT) là chính.
II. PHÂN LOẠI VIÊM MÀNG NÃO
1. Viêm màng não mủ:
- Não mô cầu (neisseria meningitidis).
- Phế cầu (streptococcus pneumoniae).
- Listeria monocytogenes.
- Tụ cầu vàng (staphylococcus aureus).
- Trực khuẩn gram âm (E.coli, haemophilus influenzae, pseudomonas, proteus...).
2. Viêm màng não nước trong:
Loại này được chia thành 2 nhóm tùy thuộc có giảm đường hay không trong DNT.
a. Viêm màng não nước trong có giảm glucose trong DNT:
- Lao (mycobacterium tuberculosis).
- Listeria monocytogenes.
b. Viêm màng não nước trong có glucose bình thường trong DNT:
Tùy theo cách thức khởi bệnh được chia thành 3 loại sau đây:
- Cấp tính:
. Siêu vi: Enterovirus gồm poliovirus typ 1, 2, 3; Coxakie A typ 1, 2, 4, 11, 14, 16, 18, 22 và 28; Coxakie B typ 1, 6; Echovirus 1, 9, 11, 25, 30 và 31; siêu vi quai bị, herpes simplex, thủy đậu, arbovirus...
. Xoắn khuẩn.
. Mycoplasmes.
- Bán cấp: Giang mai màng não (thứ phát).
- Mạn tính: Bệnh Lyme, Brucellose, HIV, Crytococcus, bệnh toàn thân (lupus, bệnh Behcet, sarcoidose), di căn màng não.
III. THỂ THEO NGUYÊN NHÂN
1. Viêm màng não mủ:
Viêm màng não mủ có đặc tính chung là DNT đục, tế bào tăng chủ yếu trung tính, protein tăng, glucose và muối giảm trong DNT.
a. Viêm màng não mủ do não mô cầu:
- Nguyên nhân: Não mô cầu được phát hiện bởi A.Weichelbaum vào năm 1887, là song cầu Gr (-) có 4 typ A, B, C và D nhưng thường gặp là typ A, C. Ðộc nhất lại là typ B. Ðường lan truyền chính là từ mũi họng thông qua đường máu, nhưng cũng có thể qua đường bạch mạch. Khi vào màng não gây tổn thương chủ yếu quanh mạch ở các rãnh não ở vùng đáy não. Ở tủy thì ưu thế đoạn cổ và ngực. Có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Ðôi khi thành dịch ở trường học, cư xá, đơn vị quân đội..., nam giới thường gặp hơn nữ giới. Ở vùng khí hậu ôn hòa thì thường xảy ra vào mùa lạnh (từ tháng 12 đến tháng 5 nhất là tháng 2, 3, 4), còn ở vùng nhiệt đới thường vào tháng 11, 12.
- Lâm sàng: thời gian ủ bệnh khoảng 2-4 ngày. Bệnh khởi phát đột ngột với ớn lạnh, sốt cao có khi 39-40°C, herpes ở môi, xung huyết kết mạc và có hồng ban là gợi ý não mô cầu. Thường đau đầu dữ dội, nôn, đau và căng cơ gáy - thắt lưng. Ở trẻ em có thể có co giật. Khám có gáy cứng, Kernig(+) hay Brudzinski (+), vạch màng não (+), đồng tử có khi không đều, đôi khi rối loạn cơ tròn. Thường có rối loạn ý thức về lượng và chất.
Hiếm khi có liệt tay chân hay các dây thần kinh sọ não. Ðôi khi có những biểu hiện ngoài dấu màng não như ban dạng sởi, tinh hồng nhiệt, hiếm hơn là đau khớp, phế quản phế viêm, viêm tai, viêm nội tâm mạc...Cũng có khi biểu hiện lâm sàng không điển hình như trội về tình trạng nhiễm độc nên còn được gọi là thể giả thương hàn, có khi chỉ co giật hay rối loạn tâm thần.
Có khi có “thể sấm sét” gây xuất huyết ngoài da, ở các phủ tạng, đau bụng dữ dội, tử vong nhanh chóng.
- Dịch não tủy: màu đục, protein trên 200mg%, glucose giảm xuống khoảng
I. ÐẠI CƯƠNG
Màng não là một tổ chức mô liên kết bao bọc não và tủy sống, được chia làm 3 màng đó là:
- Màng cứng (dura mater) nằm ngoài cùng, là tổ chức xơ bền vững bám chặt hộp sọ trừ vùng thái dương đỉnh và cột sống, nơi đó tạo khoang ngoài màng cứng.
- Màng nhện (arachnoidea) là tổ chức liên kết mềm, không mạch máu. Màng nhện có 2 lá, giữa hai lá có những cầu nối trong khoang nhện. Giữa lá ngoài và màng cứng là khoang dưới màng cứng. Lá trong bám chặt vào màng mềm (pia mater).
- Màng mềm mỏng, giàu mạch máu, bám chặt vào não bộ và tủy sống.
Khi nói viêm màng não có nghĩa là viêm 3 màng, nhưng chủ yếu là viêm màng nhện và màng mềm (lepto méningite). Viêm màng não là một khái niệm giải phẫu lâm sàng do nhiều nguyên nhân gây nên, song bệnh cảnh lâm sàng nổi bật là hội chứng màng não.
Ðể xác định chẩn đoán cũng như chẩn đoán nguyên nhân phải dựa vào xét nghiệm dịch não tủy (DNT) là chính.
II. PHÂN LOẠI VIÊM MÀNG NÃO
1. Viêm màng não mủ:
- Não mô cầu (neisseria meningitidis).
- Phế cầu (streptococcus pneumoniae).
- Listeria monocytogenes.
- Tụ cầu vàng (staphylococcus aureus).
- Trực khuẩn gram âm (E.coli, haemophilus influenzae, pseudomonas, proteus...).
2. Viêm màng não nước trong:
Loại này được chia thành 2 nhóm tùy thuộc có giảm đường hay không trong DNT.
a. Viêm màng não nước trong có giảm glucose trong DNT:
- Lao (mycobacterium tuberculosis).
- Listeria monocytogenes.
b. Viêm màng não nước trong có glucose bình thường trong DNT:
Tùy theo cách thức khởi bệnh được chia thành 3 loại sau đây:
- Cấp tính:
. Siêu vi: Enterovirus gồm poliovirus typ 1, 2, 3; Coxakie A typ 1, 2, 4, 11, 14, 16, 18, 22 và 28; Coxakie B typ 1, 6; Echovirus 1, 9, 11, 25, 30 và 31; siêu vi quai bị, herpes simplex, thủy đậu, arbovirus...
. Xoắn khuẩn.
. Mycoplasmes.
- Bán cấp: Giang mai màng não (thứ phát).
- Mạn tính: Bệnh Lyme, Brucellose, HIV, Crytococcus, bệnh toàn thân (lupus, bệnh Behcet, sarcoidose), di căn màng não.
III. THỂ THEO NGUYÊN NHÂN
1. Viêm màng não mủ:
Viêm màng não mủ có đặc tính chung là DNT đục, tế bào tăng chủ yếu trung tính, protein tăng, glucose và muối giảm trong DNT.
a. Viêm màng não mủ do não mô cầu:
- Nguyên nhân: Não mô cầu được phát hiện bởi A.Weichelbaum vào năm 1887, là song cầu Gr (-) có 4 typ A, B, C và D nhưng thường gặp là typ A, C. Ðộc nhất lại là typ B. Ðường lan truyền chính là từ mũi họng thông qua đường máu, nhưng cũng có thể qua đường bạch mạch. Khi vào màng não gây tổn thương chủ yếu quanh mạch ở các rãnh não ở vùng đáy não. Ở tủy thì ưu thế đoạn cổ và ngực. Có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Ðôi khi thành dịch ở trường học, cư xá, đơn vị quân đội..., nam giới thường gặp hơn nữ giới. Ở vùng khí hậu ôn hòa thì thường xảy ra vào mùa lạnh (từ tháng 12 đến tháng 5 nhất là tháng 2, 3, 4), còn ở vùng nhiệt đới thường vào tháng 11, 12.
- Lâm sàng: thời gian ủ bệnh khoảng 2-4 ngày. Bệnh khởi phát đột ngột với ớn lạnh, sốt cao có khi 39-40°C, herpes ở môi, xung huyết kết mạc và có hồng ban là gợi ý não mô cầu. Thường đau đầu dữ dội, nôn, đau và căng cơ gáy - thắt lưng. Ở trẻ em có thể có co giật. Khám có gáy cứng, Kernig(+) hay Brudzinski (+), vạch màng não (+), đồng tử có khi không đều, đôi khi rối loạn cơ tròn. Thường có rối loạn ý thức về lượng và chất.
Hiếm khi có liệt tay chân hay các dây thần kinh sọ não. Ðôi khi có những biểu hiện ngoài dấu màng não như ban dạng sởi, tinh hồng nhiệt, hiếm hơn là đau khớp, phế quản phế viêm, viêm tai, viêm nội tâm mạc...Cũng có khi biểu hiện lâm sàng không điển hình như trội về tình trạng nhiễm độc nên còn được gọi là thể giả thương hàn, có khi chỉ co giật hay rối loạn tâm thần.
Có khi có “thể sấm sét” gây xuất huyết ngoài da, ở các phủ tạng, đau bụng dữ dội, tử vong nhanh chóng.
- Dịch não tủy: màu đục, protein trên 200mg%, glucose giảm xuống khoảng
 























Các ý kiến mới nhất